13-5-2019, 10:17 GMT+7

Cho đời một tiếng chiêng

Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên là tiếng nói nữ quyền của người Tây Nguyên. Tiếng nói ấy giờ đang được nhạc sĩ Y Phôn K’Sơr ấp ủ phát triển thành chromatic (âm giai nửa cung) để đánh những tác phẩm âm nhạc lớn của nước ngoài như sonate (giao hưởng), nhạc sĩ Krajan Dick và nhạc sĩ Krajan Plin thì đưa vào khai thác du lịch cũng như sử dụng chất điệu sáng tác các ca khúc, nhà Tây Nguyên học Linh Nga Niê Kdam lại miệt mài nghiên cứu, sưu tầm, mang cồng chiêng đến sống trong cộng đồng. Tất cả những cách làm trên không ngoài mục đích gìn giữ những cái quý giá nhất mà cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên đã dày công tạo dựng với một tâm niệm duy nhất “cho đời một tiếng chiêng” như cách nhạc sĩ Y Phôn K’Sơr tự nhận.

Mới 8 tuổi, cậu bé Y Phôn K’Sơr đã thuộc nằm lòng các điệu chiêng. Thế nên chỉ cần nghe tiếng chiêng là Y Phôn K’Sơr phân biệt được đó là tiếng chiêng của dân tộc nào và biết điệu chiêng đó đang nói về điều gì. “Thường thì chiêng Jrai, chiêng Ba-na tâm sự bằng giai điệu; còn chiêng Ê-đê, chiêng M’Nông và chiêng K’Ho... lại tâm sự bằng tiết tấu. Tùy theo từng dân tộc, từng buôn, bon, plei... mà có sự sắp xếp, định biên thành các dàn nhạc khác nhau. Cả lối đánh, kỹ thuật đánh mỗi dân tộc, mỗi làng buôn cũng mỗi khác. Thậm chí, buôn này cách buôn kia chỉ 1 km thôi là cách chơi chiêng đã khác nhau rồi”, Nhạc sĩ Y Phôn K’Sơr cho biết.

Theo nhạc sĩ Y Phôn K’Sơr, sự khác biệt đó làm nên tính đa dạng của âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên. Nếu cồng chiêng K’Ho, Mạ ở Lâm Đồng và cồng chiêng M’Nông ở Đắk Nông thiết lập thang 3 âm (bộ chiêng 3 chiếc) hoặc thang 6 âm (bộ chiêng 6 chiếc) cho mỗi bộ chiêng, thì cồng chiêng Ba-na và Jrai thiết lập thang 4 âm, thang 5 âm, thang 8 âm và trên thang 8 âm. So với âm nhạc ngũ cung phương Tây, quãng 3 và quãng 5 trong cồng chiêng K’Ho, Mạ, M’Nông giữa trưởng và thứ không rõ ràng, còn các quãng 8, quãng 5 và quãng 4 của cồng chiêng Ba-na, Jrai thì hoàn toàn đúng với âm nhạc ngũ cung phương Tây. Còn về cách thức tấu chiêng thì người M’Nông, Mạ, K’Ho... sử dụng nắm tay đấm để tấu chiêng, trong khi người Jrai, Ba-na, Ê-đê... tấu chiêng và cồng (chiêng có núm) bằng dùi. Một sự khác biệt cơ bản nữa, các dân tộc Mạ, K’Ho ở Lâm Đồng và dân tộc M’Nông ở Đắk Nông chủ yếu tấu chiêng, rất ít khi tấu cồng, các dân tộc khác ở Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk thường tấu cả cồng lẫn chiêng, kèm theo một số nhạc cụ tre nứa.
Qua nhiều năm lăn lộn ở các làng buôn để tìm sự thật các điệu chiêng của các dân tộc Ê-đê, Ba-na, Jrai, Chăm H’Roi, M’Nông, Xê-đăng, K’Ho, Mạ... thuộc địa bàn các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Thuận, Ninh Thuận, Phú Yên, Lâm Đồng, Gia Lai và Kon Tum là gì và rồi cuối cùng nhạc sĩ Y Phôn K’Sơr đã nhận ra, âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên có một điểm chung khao khát, một ý thức trách nhiệm trở về cội nguồn, gắn kết trong ngữ hệ mẫu quyền, có nghĩa tiếng nói chủ đạo là đàn bà. “Trở về nguồn cội là một khao khát. Mà việc các thành viên trong dàn cồng chiêng trong lúc diễn tấu đi từ phải qua trái, ngược chiều kim đồng hồ, đã nói lên ý nghĩa ngược thời gian trở về quá khứ, tức tìm lại cội nguồn. Tôi đang đi trên con đường ngày xưa ông bà đi và gom nhặt từng giá trị văn hóa mà ông bà đã để lại trên con đường ấy. Tôi làm điều này từ trái tim, từ dòng máu, chỉ mong sau này mình chết đi thì để lại cho con cháu, cho đời một tiếng chiêng”, Nhạc sĩ Y Phôn K’Sơr tâm sự.

Trong con người nhạc sĩ Y Phôn K’Sơr, Tây Nguyên hơn cả một tình yêu, nó là máu thịt, cũng như cồng chiêng là máu thịt. Thế nên, ngoài thời gian công tác tại Đoàn Ca múa nhạc dân tộc Đắk Lắk, nhạc sĩ Y Phôn K’Sơr còn biên soạn giáo trình, tham gia công tác giảng dạy cồng chiêng và các loại nhạc cụ liên quan đến cồng chiêng cho thế hệ trẻ Tây Nguyên. Tất nhiên, với người nhạc sĩ này, không thể thiếu những chuyến trở về buôn làng để sưu tầm và tìm cảm xúc sáng tác nhạc. “Những ca khúc do Y Phôn K’Sơr sáng tác có sử dụng giai điệu, tiết tấu của dân nhạc Tây Nguyên rất thành công. Có những bài hát đã vượt ra khỏi Tây Nguyên”, Nhà Tây Nguyên học Linh Nga Niê Kdam nhận xét.

Chưa dừng lại ở đó, nhạc sĩ Y Phôn K’Sơr đang tìm một hướng đi mới khi kết hợp 3 cụm chiêng: chiêng K’Ho và chiêng M’Nông, chiêng Jrai và chiêng Ba-na, chiêng Ê-đê và chiêng Chăm H’Roi, để mang đến những sắc thái mới mẻ cho âm nhạc cồng chiêng. Giữa mỗi phân đoạn, nhạc sĩ Y Phôn K’Sor dự định sử dụng một bài hát hoặc một câu nhạc dẫn và cuối cùng là sử dụng âm thanh cao vút của cồng chiêng Ê-đê làm cao trào.

Có cùng tâm cảm như nhạc sĩ Y Phôn K’Sơr, tác giả của một số ca khúc được mến mộ: Nồng nàn cao nguyên, Cánh sóng và chuyện tình, Men tình xuân, Gọi gió... - nhạc sĩ Krajan Dick - lại yêu Tây Nguyên theo cách của mình. Từ vốn văn hóa bản địa K’Ho, ông biến nó thành nguồn cảm hứng, thành tư liệu, thành bối cảnh cho việc sáng tạo các ý tưởng tạo lập các sản phẩm văn hóa du lịch. Nhạc sĩ Krajan Dick thành lập các đội cồng chiêng ngay tại nơi mình sinh (núi Lang Biang, huyện Lạc Dương) để góp phần truyền bá những nét đặc trưng nơi âm nhạc cồng chiêng, kết hợp văn hóa ẩm thực, cùng tập tục bản địa K’Ho đến với du khách trong và ngoài nước. Nhạc sĩ Krajan Dick còn là nhà khảo cứu văn hóa, một nghệ nhân cồng chiêng. Những gì nhạc sĩ Krajan Dick làm cho âm nhạc, cho văn hóa truyền thống Tây Nguyên đã được mọi người biết đến và ghi nhận. Cũng kinh doanh vốn văn hóa truyền thống K’Ho ở chân núi Lang Biang, nhưng cách làm của nhạc sĩ Krajan Plin rất trẻ trung và hiện đại. Tây Nguyên của Krajan Plin là một Tây Nguyên mới, mới trong phương cách Krajan Plin sử dụng cồng chiêng vào hoạt động du lịch văn hóa, khi biết mở rộng biên độ giao lưu với thế giới bên ngoài, biết ứng dụng tiện nghi công nghệ hiện đại vào đời sống biểu diễn. Tuy vậy, Tây Nguyên trong thẳm sâu con người Krajan Plin vẫn là một Tây Nguyên chân mộc, thô ráp, xa xăm. Chất điệu đó được Krajan Plin thể hiện rõ trong ca khúc: K’bing ơi, Giữ ấm bếp hồng...


TRỊNH CHU
Video
.
.
Trung tâm lưu trư QG IV
Hits count: 33,656,105