7-8-2019, 10:27 GMT+7

Mùa du hành

Khi hạt thóc đã về kho, những cánh chim Cơ Tia, C’rao sải cánh giữa đại ngàn, hoa pơ lang thắp lửa giữa nền trời xanh thẳm… mùa du hành đã đến. Già trẻ, gái trai ở các buôn làng Tây Nguyên hẹn hò “đi xuôi” chơi chợ. Họ thích thú rảo theo những cung đường mòn song song các dãy núi, gùi trên lưng và xà gạt cầm tay, du hành về phía biển, mang sản vật miền Thượng đổi lấy vị mặn của biển khơi. Đó cũng là mùa “đi làng người”, mùa vui thú, có khi kéo dài nhiều tuần mà những người Tây Nguyên hôm nay kể lại một cách thích thú.
 

Mùa khô, cung đường nối thành phố hoa Đà Lạt và phố biển Nha Trang nắng vàng tơ. Phía chân núi Bidoup, buôn Đưng K’si, xã Đạ Chais, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng yên bình đến lạ. Bên hiên nhà, già Bon Tô Xa Nga phà khói thuốc vào thinh không. Ông mở lời: “Ở vùng đất này có hai tuyến đường xưa cha ông thường “lòt drà” (đi chợ), khi mùa màng thu hoạch xong. Nói là “lòt drà”, nhưng ngày xưa miền Thượng làm gì có chợ. Muốn đổi chác, mua sắm phải xuống tận miền biển Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa mới có họp chợ và hạt muối cũng theo cái gùi bà con về với buôn làng”.
Nắng lên. Đỉnh Bidoup bồng bềnh mây trắng, như mái tóc buông xõa của bà Cil KVơr giữa cung đường làng. Đã qua hơn 70 mùa rẫy, nhưng đôi chân người đàn bà một thời băng rừng trên “cung đường muối” vẫn còn khỏe khoắn. Bà nói: “Hạt muối ngày xưa với người Tây Nguyên quý lắm. Bởi thế nên bất chấp hiểm nguy, thú dữ, luồn rừng mấy tuần liền mới có vài ống muối mang về. Nhưng, những chuyến phiêu lưu như thế vui lắm. Đó còn là dịp hẹn hò, gặp gỡ. Có khi việc mua bán, đổi chác không quan trọng bằng việc trao đổi tình nghĩa với nhau, cho nên “lòt drà” cũng coi như là “đi chơi chợ” vậy. Nhờ những chuyến “lòt drà” mà mình “bắt” được chồng”.

Xưa, người Thượng ở vùng này thường đi “chơi chợ” như vậy vào mùa khô hàng năm. Mỗi lần “lòt drà” họ đi khá đông, khung cảnh như mùa hội, có khi cả tháng mới về và chỉ về cho kịp lúc những chồi non đội đất chui lên, mẹ lúa nghe tiếng sấm tĩnh giấc, mùa vụ mới bắt đầu... “Ngày xưa, người Tây Nguyên là kẻ lữ hành tự do, bay bổng và phóng khoáng; họ trao đổi những gì họ muốn, ở nơi họ thích. Việc mua bán diễn ra vui vẻ, thuận hòa”, già Xa Nga nói.

Những chuyến du hành, mua bán, đổi chác ấy có khi là dịp cho lứa đôi hẹn hò và trao nhau chiếc nhẫn thiêng “ràng buộc”. Thông thường, người Tây Nguyên lấy nhau trong tộc người của mình. Những cuộc hôn nhân với “người ngoài” rất hiếm, tuân theo sự gần gũi nhau vốn có giữa tộc người này và tộc người kia. Và cung đường tìm vị mặn mòi xứ biển đã tạo nên sự gắn kết. Trong không gian buôn làng Đưng K’si, chúng tôi đã nghe được rất nhiều ngữ hệ.
Mùa này, Nam Tây Nguyên nắng sánh như mật, trời xanh lồng lộng, những ngọn cỏ hoang dại nhuốm màu sạm cháy trên sườn đồi và các buôn làng rậm rịch vào hội. Lau lách dưới bóng đại ngàn, trong bản tiêu dao của chim rừng. Theo bước chân chàng trai miền sơn cước K’Vâng, người dẫn đường chuyên nghiệp trên những cung đường rừng nối miền Thượng và miền biển, anh bảo: “Cung đường này khoảng 30 cây số. Những người già trong các buôn làng K’Ho nơi đây nói chắc nịch, đây là “con đường muối năm xưa”. Giờ là cung đường trải nghiệm quyến rũ. Có lẽ, không khí trekking cũng giống cha ông mình ngày xưa qua những câu chuyện kể. “Con đường muối” chỉ là tên gọi mơ hồ, thể hiện sự giao thương miền Thượng - miền xuôi, cái cốt là thú về rừng, đi làng người, ngao du như lữ khách. Và những cuộc du hành như thế đã tạo sự gần gũi giữa các tộc người”.

Bình minh khác biệt giữa rừng. Nắng len lén trườn qua kẽ lá, rót xuống từng sợi lung linh giữa làn sương mờ tỏ. Chim C’rao đã cất tiếng gọi bầy và hành trình “theo dấu cha ông” vẫn tiếp tục… K’Vâng bảo, nhiều già làng nam Tây Nguyên kể rằng: Xưa, lúc khởi hành, ngoài những món hàng để đổi chác, đoàn người “đi xuôi” chỉ đem theo gạo và ít muối, đó là hai món cần thiết. Còn các thức ăn khác thì rừng núi, suối ao sẽ cho thừa thãi. Và cung đường “hạt muối năm xưa” đã kết giao thâm tình những tộc người không cùng ngữ hệ.

Cũng như bao người con trên miền đất bazan Tây Nguyên hùng vĩ, xưa, người K’Ho, Mạ, Churu… trên cao nguyên Lang Biang, cao nguyên Di Linh đã trải qua những tháng ngày rất dài đốt cỏ tranh lấy tro làm vị mặn trong các bữa ăn. Và hôm nay, họ vẫn nhớ như in những câu chuyện trên hành trình thung thăng về phía biển. Đêm, về với buôn làng người Churu ở R’Lơm, Đơn Dương, Lâm Đồng. Già làng Ya Loan đang khơi hồng bếp lửa. “Đi chợ, người K’Ho nói là “lòt drà”, còn người Churu mình gọi là “nau drà”. Trẩy phiên chợ xa đổi muối có lẽ là cái cớ. Đó là mùa đi, mùa lữ hành, mùa “đi làng người”, như cái thú của người Tây Nguyên vậy”, già Ya Loan nói.

Theo một số tài liệu, cùng những “cung đường muối” phía cao nguyên Lang Biang, xuôi cao nguyên Di Linh là đường mòn Phan Rí (Gun Phô rí), đường mà A.Yersin đã có dịp thám hiểm vào năm 1890 và đường mòn Phan Thiết (Gun Bơ Jai), về sau trở thành trục lộ Ma Lâm - Di Linh. “Các chuyến du hành như vậy rất sảng khoái, đồng bào mình được sống với thiên nhiên, hòa vào rừng và cũng là dịp kết giao, tìm hiểu nhau. Từ ngày lên đường đến khi ai về nhà nấy, đã có nhiều đôi “muối mặn, gừng cay”, nên duyên vợ chồng”, già Ya Loan thổ lộ.

Bình minh đã dát bạc bầu trời, sương bảng lảng trên những ngọn núi. Ngày mới bắt bắt đầu. Bếp lửa già làng vẫn đủ ủ ấm chén trà đêm qua, chợt nhớ chuyện “lòt drà” trong “Miền đất huyền ảo” của Dam Bo (tức Jacques Dournes, nhà dân tộc học người Pháp): “Họ đi theo những con đường truyền thống xuyên qua vùng Tây Nguyên từ Tây Bắc xuống Đông Nam, vượt qua núi, men theo các đỉnh, đổ xuống đồng bằng và cuối cùng đến Phan Thiết, hoặc Phan Rang, Nha Trang… Các cuộc du hành có khi kéo đến nhiều tuần, vì mang nặng, ấy là những dịp vui thú, mà những người Tây Nguyên ngày nay kể lại một cách thích thú”.

Và, trên những cung đường “hạt muối năm xưa” đã kết giao thâm tình những tộc người không cùng ngữ hệ. Đôi khi, chỉ trong một ngôi nhà sàn, ta có thể nghe cả tiếng Mạ, K’Ho… lẫn tiếng Raglay.


.MAI VĂN BẢO
 
Video
.
.
Trung tâm lưu trư QG IV
Hits count: 33,722,239