13-5-2019, 9:7 GMT+7

Tiếng chiêng trở giấc

Già làng K’Têu, người Mạ, ở bon B’Kẻh, xã Lộc Ngãi, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, ngồi thu lu bên bậu cửa, xa xăm phả những làn khói thuốc rê xanh mơ. Nhác thấy tôi, già làng K’Têu hỏi: “Mày muốn nghe tiếng cing (chiêng) á?”. Tôi gật đầu, rồi lặng lẽ theo già vào trong.
 
1.
Già làng K’Têu dáng người rắn rỏi, chắc nịch như đồng, lôi từ trong bao tải ra bộ chiêng sáu (bộ chiêng có 6 chiếc), rồi chỉ tay vào từng chiếc một, giải thích: “Đây là chiếc cing Me, kia là cing R’sùng, cing Diên, cing Thòng, cing Thờ và cuối cùng là chiếc cing Tễ. Tiếng cing Me thì trầm. Tiếng cing Tễ thì thanh. Cồng chiêng là tiếng nói của Yàng, lời của thần linh”. Tôi nhìn theo đôi bàn tay chai sạn, gân guốc, phong trần từng chống đỡ biết bao bất trắc nơi rú thẳm, rừng hoang đang mân mê những báu vật gắn bó máu thịt hàng ngàn năm cùng dân bon vừa được lôi ra từ trong bao tải mà lòng buồn se sắt. Tiếng cồng chiêng bao đời vẫn ru vỗ hồn người Tây Nguyên, nói thay tiếng lòng người Tây Nguyên hùng vĩ đây sao? Tiếng chiêng cồng từng mê hoặc các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian là đây sao?
Chừng như hiểu được sự xót xa hiện lên trong ánh mắt tôi, già K’Têu phân trần: “Độ mười năm trở về trước, tiếng chiêng chỉ còn biết nằm im trong cái bụng của người già. Tao nhớ lắm chớ, nhưng chẳng thể làm được gì!”. Nhìn vào mắt già, tôi thấy ánh lên một hoài niệm xa xăm, một nỗi niềm sâu kín, mơ hồ: Xưa kia, cồng chiêng luôn được người Mạ đặt ở vị trí trang trọng nhất trong ngôi nhà dài (hìu rọt) và trước khi sử dụng bao giờ chủ làng (kwang bon) cũng phải tiến hành nghi lễ để xin phép thần linh. Cồng chiêng chịu sự ràng buộc nghiêm ngặt của tính ngưỡng đa thần, chỉ được sử dụng vào các dịp lễ hội đặc biệt và nhất thiết phải được các thần linh cho phép. Không gian văn hóa cồng chiêng trở thành nếp sinh hoạt không thể thiếu trong đời sống tinh thần của các dân tộc bản địa Tây Nguyên. Không những thế, không gian văn hóa cồng chiêng đã ôm trọn cái đẹp hòa hợp, vĩnh cửu giữa con người với thiên nhiên, giữa sự ngưỡng vọng, tri ân của con người với thần linh và giữa con người với con người.
Nhưng...
Thời đại đổi khác, một ngày kia, dân bon bỗng nhận ra rừng đã không còn nhiều như trước để mà lang thang; rằng, hoa cà phê đã nở trắng trời chứ không còn là hoa của cây lúa rẫy thức ngủ cùng gió nắng. Nền văn minh thảo mộc gắn với cây lúa rẫy thuần hậu bao đời nay đã được thay thế bằng cây cà phê sung túc, no đủ. Phương thức sản xuất thay đổi kéo theo hình thái kinh tế thay đổi. Cùng với đó, là những biến đổi trong đời sống, sinh hoạt, văn hóa, tín ngưỡng của người dân bản địa Tây Nguyên đã tác động tiêu cực đến những lễ nghi xưa. Không gian rừng, không gian nhà dài, không gian diễn xướng, trình tấu cồng chiêng ngày càng bị thu hẹp dưới tác động của cuộc sống hiện đại. Chiêng cồng không được sử dụng rộng rãi như trước. Thậm chí, nhiều bon làng đã không còn cồng chiêng. Số nghệ nhân trình tấu, diễn xướng cồng chiêng cao tuổi cũng mất dần theo thời gian, cộng thêm sự suy giảm số lượng nhà dài, suối thác, lễ hội, lửa rừng… Quan trọng nhất, không gian thiêng, nơi ngự trị của các Yàng, nơi mà tiếng chiêng thiêng cất lời, gửi đến các thế lực siêu nhiên những giấc mơ của dân bon cũng chịu chung số phận mai một.

Và thế là, đằng đẵng bao mùa qua, bao tháng qua, bao năm qua bao, già làng K’Têu vẫn đắng đau một nỗi niềm, liệu mai này có ai còn nhớ hồn chiêng, giữ hồn chiêng, nhịp chiêng để nó ngân rung, vang vọng giữa đại ngàn Tây Nguyên này. Tiếng chiêng vì thế chỉ còn một nỗi buồn, âm thầm, da diết. Bộ chiêng sáu cũng đành xếp vào bao tải, như thể xếp lại ký ức đời người, một ký ức đã trở thành thực tại văn hóa, tạo nên giá trị tinh thần cho cả cộng đồng.

2.
Cho đến một ngày, cách đây hơn mười năm, linh mục Hà Diên Tố, Giáo xứ Minh Rồng, đứng ra tập hợp những người biết đánh chiêng truyền dạy kỹ thuật cồng chiêng cho bọn trẻ, thì tiếng chiêng mới lại được dịp vang ngân, nói tiếng nói của dân bon. Linh mục Hà Diên Tố thành lập được hai đội chiêng, một đội nam và một đội nữ. Mỗi đội chiêng có sáu người. Chủ nhật hàng tuần, hai đội chiêng này lại tấu lên những thanh âm đại ngàn hòa với những giọt âm thanh thánh ca Tây phương. “Công của linh mục Tố lớn lắm!”, già làng K’Têu biết ơn.

Những điệu chiêng, bài chiêng vốn nằm im đâu đó trong thẳm sâu ký ức bỗng trở về sống động. Lâu lắm rồi, người Mạ ở B’Kẻh mới được nghe chiêng, tấu chiêng. Tiếng chiêng cứ thế ngân rung, hát về một thời quá vãng vàng son, đầy mê đắm. Cồng chiêng những ngày mùa nghe tưng bừng, rộn rã. Cồng chiêng những đêm trăng đại ngàn nghe tha thiết, yêu tin. Cồng chiêng là tiếng lòng người Mạ, lời ông bà hiển linh, lời rừng thiêng nhiệm màu. Nhịp chiêng sáu chậm rãi mà phóng túng, như chính phong thái trầm tĩnh, thư thả của những bước chân tự do đầy kiêu hãnh của người Mạ.

Khi tiếng cồng chiêng từ đôi tay của những người trẻ rộn rã nổi lên, người Mạ trong bon B’Kẻh trẻ có, già có đã đến nhà già làng K’Têu rất đông để xem thanh niên tấu chiêng. Nghệ nhân cồng chiêng K’Túc, người truyền dạy cách tấu chiêng cho lớp trẻ người Mạ, vừa mê mải đánh chiêng vừa lời rằng: “Ta về đây đầy đủ các già làng/ Ta kể lại nơi đây những câu chuyện ngày xưa, chuyện trong rẫy, chuyện trong rừng, chuyện ở dưới chân rẫy, nơi chúng mình đã đi qua/ Hỡi con ơi! Cháu ơi! Nhớ đánh chiêng, đánh cồng, đánh cho thật đều, nhịp nhàng nhé, hỡi con/ Phụ nữ đẹp luôn đeo dây cườm, không đeo dây cườm là người phụ nữ không đẹp/ Cũng như tiếng chiêng, không có bàn tay đàn ông thì điệu chiêng, tiếng chiêng không hay/ Chiêng đẹp nhất là bộ chiêng có đủ chồng đủ vợ, như người ta có con trai con gái/ Tất cả về đây nghe điệu đơs long/ Cùng nhau đợi chờ, nhớ chuyện xưa đừng quên/ Anh em nhé! Ta về đây kể lại chuyện xưa/ Hỡi chàng trai, cô gái ơi! Nhớ con sông, con suối ta lại gặp nhau/ Nhớ chuyện xưa yal yau, ta trở lại bên nhau/ Nhớ khe núi, khe đồi năm ấy, ta vẫn chờ nhau”. Rồi nghệ nhân cồng chiêng K’Túc giải thích đấy là nội dung trong bài chiêng “Câu chuyện chàng trai cô gái”. Cồng chiêng cứ thế ru đêm đại ngàn, ru hồn người Mạ bềnh bồng.

3.
Tôi nhìn sang K’Việt, chàng trai có vẻ mặt sáng nhất trong đội chiêng sáu người, và ướm thử: “Học tấu chiêng có khó không?”. K’Việt bảo: “Tấu chiêng học khó lắm! Phải vừa khéo cái tai vừa khéo cái tay thì mới học được”. K’Việt cho biết thêm: “Các bài chiêng đều có sẵn và cũng chỉ có một phương pháp truyền dạy duy nhất, đó là cầm tay chỉ việc, ai có năng khiếu cảm thụ thì nhớ”. Tuy vậy, K’Việt cũng thừa nhận, mặc dù đã học đánh chiêng được bốn năm, nhưng vẫn chưa thể nhớ hết các bài chiêng, điệu chiêng. “Tao học chiêng hơn mười năm rồi mà vẫn còn sai nhịp đấy!”, chị Ka Nhiễu, người cùng đội chiêng với K’Việt, nói chen vào.

Dồn tất cả đam mê vào tiếng chiêng, sáu người con của núi lại tiếp tục so chiêng, giữ nhịp để hát về giấc mơ phiêu lãng đời mình: “Ai kon sõ jòi blơn leh/ Ai kon sơh jòi prên leh/ Kơnơm rơ hền lòt jòi leh/ Pi sa iar lot tă leh/ Miu sa kòn lot tă leh/ Pă rơnai sơlạ leh”. Không hiểu ngữ nghĩa của bài chiêng bằng tiếng Mạ, tôi hỏi Ka Thủy, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Lộc Ngãi. Ka Thủy chuyển ngữ sang tiếng Việt cho tôi: “Em ơi! Khi con ve sầu kêu là mùa làm cỏ/ Hãy mang cái gùi đi tìm trái cà/ Đừng để con chồn ăn con gà/ Phơi lúa đừng để mưa ướt”. Ka Thủy còn cho tôi biết đó là bài chiêng “Jê léh Jê lơn”. Bài chiêng có nội dung giáo dục, nhắc nhở những cô gái Mạ khi mùa dọn cỏ bắt đầu. “Jê léh Jê lơn” có kỹ thuật đánh đảo chiêng rất tinh tế.

*

Tôi tạm biệt những đứa con trung kiên của Tây Nguyên hoang tràn nắng gió để về lại phường phố. Ngàn mắt lá vẫn thầm thì lời huyền mặc. Thảng hoặc đâu đó, tôi nghe tiếng chiêng lại vang lên, nhưng nó không còn lạc lõng, bơ vơ, không còn ray rứt, xót đau về một ngày mai vô định nữa, mà cháy bừng đam mê.


(TRỊNH CHU)
Video
.
.
Trung tâm lưu trư QG IV
Hits count: 33,694,324