19-6-2019, 16:20 GMT+7

Đong đưa tiếng kèn bầu

Nam Tây Nguyên, mùa con chim Tia Chôm, C’rao sải cánh giữa đại ngàn. Mùa dệt những thảm xanh... Giữa mênh mông đại ngàn, bổng miên man nhớ âm giai rơkel (kèn bầu) của người Churu trên miền đất đỏ, tôi lang thang tìm về những buôn làng đang nuôi giữ cổ tích, nơi tiếng rơkel vẫn đong đưa, say đắm…
 


Màu nắng vàng tơ trên những sườn đồi Nam Tây Nguyên, mùi hương hoa cải thoảng bay trong gió, tôi tìm về buôn làng Churu ở xã Tu Tra, huyện Đơn Dương, Lâm Đồng, để cùng nghệ nhân Ma Tham khắc khoải điệu rơkel giữa rừng chiều yên ả. Này điệu trải lòng của những người con ở núi chậm, buồn, thao thiết; điệu ru con đong đưa, nhẹ nhàng, trìu mến; điệu tiễn đưa nỉ non, day dứt… Quả thực, trên nhạc cụ sáu ống tre gắn vào quả bầu khô là một thế giới siêu thực, nhưng rất đời. Đó là những câu chuyện được kể bằng âm thanh, đó cũng là tiếng lòng của người Churu tự thẩm thấu qua bao thế hệ. Những điệu thức không có ghi chép, đó là mạch nguồn hồn nhiên tự chảy trong huyết quản của những người con trên miền rừng xanh, núi đỏ.

Tiếng kèn bầu của Ma Tham nổi tiếng khắp vùng lâu nay là nhờ bố, ông Ha Sen, nay đã qua tuổi thất thập. Ma Tham đã đem “vốn liếng” nghệ thuật rơkel được cha trao truyền lưu diễn khắp nơi. Giờ đây, Ma Tham lại nhìn thấy bóng dáng của mình ở người con gái tuổi mười ba Ma Viên. Tôi gặp già Ha Sen không hẹn trước, già chào đón khách lạ bằng một điệu rơkel “mừng khách”. Ông bảo: “Mình chỉ giỏi làm kèn, sửa kèn và thẩm âm, còn thổi thì…”, buông lơi câu nói, ông nhìn về phía Ma Tham. Năm lên mười, mỗi chiều nhạt nắng, Ma Tham lặng lẽ mang kèn bầu của cha trốn ra góc vườn để tập thổi. Những âm giai đang rời rạc, nhưng chất chứa cung bậc cảm xúc bật ra từ tâm hồn của đứa trẻ lên mười, khiến bà con buôn làng thổn thức. Tài năng thiên bẩm và tình yêu rơkel được bồi đắp tháng ngày, cứ thế mà trở thành nghệ nhân Ma Tham nổi tiếng khắp vùng.

Nói về chuyện làm rơkel, già Ha Sen bảo, để có một chiếc kèn bầu là một quá trình công phu, tỉ mẫn. Trước tiên, chọn quả bầu thật già, dày vỏ, tròn đều và kích thước vừa phải, sau đó vùi vào đất nhão cho ruột rữa ra. Tiếp đến, lấy hết ruột qua lỗ cắt ở cuống, làm sạch và phơi nắng. Sau đó phải có bí kíp xử lý để tránh mối mọt và co giãn; gác quả bầu lên giàn bếp cho phần da lên màu nâu đỏ và săn, rồi phơi sương vài hôm nữa. Công đoạn kế tiếp là khoét lỗ ở hông, kiểm tra âm để lắp sáu ống nứa vào thành hai hàng: trên bốn, dưới hai. “Ống nứa cũng phải chọn lựa kỹ càng mới phát đúng âm. Trong mỗi ống nứa có gắn một cái “lưỡi gà” để tạo độ rung. Khâu này rất quan trọng và khó nhất, bởi nó quyết định âm sắc. Cuối cùng mới gắn đường âm (sáu ống nứa) vào hộp âm (quả bầu) và dùng sáp ong hàn kín. Để đạt chuẩn âm sắc còn phải chỉnh sửa nhiều lần”, già Ha Sen nói.

Có lẽ, Ha Sen được Yàng chọn để trở thành người nối nghiệp làm rơkel cho buôn làng, để kết nối mạch nguồn văn hóa truyền thống. Hơn chục năm qua, chiếc kèn bầu của già Ha Sen đã cùng Ma Tham ngân rung tại nhiều lễ hội buôn làng; lúc tự tình, lúc quyện hòa, hợp tấu với nhiều nhạc cụ truyền thống khác tại hầu khắp buôn làng trong tỉnh Lâm Đồng, đến khu vực Tây Nguyên…

Chiều, khi những giọt nắng còn vương vấn trên những nếp nhà của bà con buôn làng ở xã Tà Hine, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng. Trong căn nhà gỗ giản dị, tôi đã từng được già Ya Đậu tiếp chuyện. Già mở lời: “Rơkel là nhạc cụ được nhiều dân tộc ở Tây Nguyên sử dụng trong hầu hết các sinh hoạt cộng đồng, đó là phương tiện truyền tải tâm tư, tình cảm giữa những người con buôn làng và với thần linh. Xưa, nhạc cụ này không thể thiếu trong mỗi gia đình, nay khác rồi…”. Già bỏ lửng câu nói và cất điệu kèn bầu da diết.

Hồi chưa bị “bắt” về làm rể (theo chế độ mẫu hệ), với năng khiếu âm nhạc, Ya Đậu đã khiến bao trái tim cô gái Churu thổn thức. “Mình mê nhạc cụ truyền thống của dân tộc, từ nhỏ mình đã theo già làng để học. Học đâu biết đó thôi, không cần ghi chép, bởi vậy, phải có năng khiếu mới học được”, già Ya Đậu thổ lộ. Theo già Ya Đậu, ở buôn làng này, trước đây, nhà nào cũng có ít nhất một chiếc khèn bầu. Chiều về, bên hiên những nếp nhà dài, người già, người trẻ có thể mượn điệu rơkel tỉ tê, tâm sự. Nhưng nay, chỉ số ít các già trong buôn còn giữ được.

Với người Churu, mỗi điệu chiêng, điệu vũ, điệu rơkel đều gửi gắm một thông điệp với thần linh, với rừng xanh, với cộng đồng… trong chính không gian thiêng của buôn làng, không gian văn hóa nuôi sống nó. Lòng người, hồn chiêng và những điệu rơkel mê hoặc, quyện hòa ngân dài tận đỉnh núi. Chính vì vậy, trong các sự kiện mang tính cộng đồng, cộng cảm, người Churu đều sử dụng âm nhạc cồng chiêng, hoặc “hợp âm” chiêng, trống, rơkel… cùng các điệu vũ, từ nghi lễ cúng thần, đến cưới hỏi, tang ma.

Buôn làng Churu đã bập bùng bếp lửa. Không rượu cần tiễn biệt, lướt nhẹ đôi tay trên chiếc kèn bầu, già Ya Đậu đưa chúng tôi vào chốn siêu thực, qua âm giai trầm bổng giữa đại ngàn, khi trầm thiêng như sấm, lúc róc rách như suối nguồn, khi buông lơi như giọt nắng cuối ngày... Có lẽ, đó là tiếng lòng của người con Churu, luôn khắc khoải theo tiếng kèn bầu truyền thống.

MAI VĂN BẢO


 
Video
.
.
Trung tâm lưu trư QG IV
Hits count: 33,771,128