1-10-2019, 14:50 GMT+7

Tình hình xuất khẩu hạt tiêu và hạt điều 8 tháng đầu năm 2019

 Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, 8 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu hạt điều của Việt Nam tăng về lượng nhưng giảm về kim ngạch so với 8 tháng đầu năm 2018.

Xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam 8 tháng đầu năm nay cũng tăng về lượng nhưng giảm về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, do giá giảm.

Tình hình xuất khẩu hạt điều của Việt Nam 8 tháng đầu năm 2019
Theo Tổng cục Hải quan, 8 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu hạt điều đạt 285,95 nghìn tấn, trị giá 2,1 tỷ USD, tăng 18,3% về lượng, nhưng giảm 7,6% về trị giá so với 8 tháng đầu năm 2018.
Riêng tháng 8/2019, xuất khẩu hạt điều tăng cả lượng và trị giá, tăng lần lượt 3,8% và 3,4% đạt tương ứng 46 nghìn tấn, trị giá 312,64 triệu USD – đây là tháng tăng thứ hai liên tiếp.
Tuy đứng thứ 3 về sản lượng điều thô, nhưng Việt Nam đang dẫn đầu thế giới về xuất khẩu điều nhân trong 10 năm liên tiếp.

Các thị trường xuất khẩu hạt điều chủ đạo của Việt Nam 8 tháng đầu năm 2019
Hạt điều của Việt Nam được xuất khẩu tới 27 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Mỹ, Trung Quốc, Hà Lan, Đức, Anh là những thị trường chủ lực. Lượng điều xuất khẩu từ các quốc gia này chiếm 64,9% tổng lượng điều xuất khẩu, trong đó xuất sang Mỹ nhiều nhất 95,04 nghìn tấn đạt 685,26 triệu USD, tăng 1,57% về lượng nhưng giảm 22,41% trị giá, giá xuất bình quân 7209,8 USD/tấn, giảm 23,61% so với cùng kỳ năm 2018. Riêng tháng 8/2019, Việt Nam cũng đã xuất sang Mỹ 15,3 nghìn tấn, trị giá 99,3 triệu USD, giảm 4,72% về lượng và giảm 6,25% trị giá, giá bình quân 6474,78 USD/tấn, giảm 1,61% so với tháng 7/2019, so sánh với tháng 8/2018 thì tăng 13,8% về lượng nhưng giảm 14,53% trị giá, giá bình quân giảm 24,89%.

Đứng thứ hai sau thị trường Mỹ là Trung Quốc lục địa với lượng xuất 42,19 nghìn tấn, trị giá 327,13 triệu USD, tăng 60,14% về lượng và tăng 34,93% trị giá so với cùng kỳ năm 2018, mặc dù giá xuất bình quân giảm 15,74% chỉ với 7752,13 USD/tấn. Riêng tháng 8/2019 cũng đã xuất sang thị trường Trung Quốc 7,7 nghìn tấn, trị giá 59,54 triệu USD, giá bình quân 7636,33 USD/tấn, tăng 21,64% về lượng, 24,55% trị giá và giá bình quân tăng 2,4% so với tháng 7/2019, nếu so sánh với tháng 8/2018 thì cũng đều tăng cả lượng và trị giá, tăng lần lượt 68,33%l 59,4% nhưng giá bình quân giảm 5,3%.
Kế đến là các thị trường Hà Lan, Đức, Anh đạt lần lượt 26,31 nghìn tấn; 11,35 nghìn tấn và 10,9 nghìn tấn, trị giá tương ứng 201,47 triệu USD; 87,28 triệu USD và 75,90 triệu USD.

Nhìn chung, 8 tháng đầu năm 2019 xuất khẩu hạt điều sang các thị trường lượng tăng nhưng kim ngạch hầu hết suy giảm. Theo đó, xuất khẩu sang thị trường Pakistan tăng mạnh vượt trội, gấp 2,1 lần về lượng (tức tăng 107,14%) và tăng 86,32% trị giá, tuy chỉ đạt 29 tấn, trị giá 244,7 nghìn USD, giá bình quân 8439,14 USD/tấn, giảm 10,05% so với cùng kỳ năm 2018. Cùng với đó xuất sang các thị trường Hy Lạp và Ukraine cũng tăng mạnh, tăng lần lượt 61,62% và tăng 76,02%, đạt lần lượt 758 tấn; 690 tấn. Ngược lại, xuất khẩu hạt điều sang thị trường Ấn Độ giảm mạnh, 37,06% về lượng và 53,32% trị giá với trên 2 nghìn tấn, trị giá 11,5 triệu USD, giá bình quân 5501,69 USD/tấn, giảm 25,85% so với cùng kỳ năm trước.

Đáng chú ý, cơ cấu thị trường xuất khẩu điều 8 tháng đầu năm nay so với năm ngoái có thêm các thị trường Saudi Arabia 2,39 nghìn tấn; Co Oet 115 tấn và Iraq 981 tấn.
Một điểm đáng chú ý về xuất khẩu hạt điều 8 tháng đầu năm nay là mặc dù lượng xuất sang các thị trường hầu hết đều tăng trưởng, nhưng giá bình quân lại sụt giảm, theo đó xuất sang thị trường Philippines giảm nhiều nhất 32,72% chỉ có 5995,38 USD/tấn

Tình hình xuất khẩu hạt tiêu xuất khẩu sang các thị trường 8 tháng đầu năm 2019
Trong 8 tháng đầu năm nay, giá xuất khẩu hạt tiêu sang toàn bộ các thị trường đều sụt giảm so với cùng kỳ năm 2018, do đó có rất nhiều thị trường tăng mạnh về lượng xuất khẩu nhưng kim ngạch lại giảm ở hầu hết các thị trường.
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tháng 8/2019 là tháng thứ 3 liên tiếp xuất khẩu hạt tiêu sụt giảm; cụ thể, tháng 8/2019 giảm 19,9% về khối lượng, giảm 22,6% về kim ngạch và giảm 3,5% về giá so với tháng 7/2019, đạt 18.872 tấn, tương đương 46,39 triệu USD, giá trung bình 2.458,4 USD/tấn.

Tính chung trong 8 tháng đầu năm 2019 cả nước xuất khẩu 218.340 tấn hạt tiêu, tương đương 556,28 triệu USD, giá trung bình 2.547,8 USD/tấn, tăng 24,4% về lượng nhưng giảm 4,8% về kim ngạch và giảm 23,5% về giá so với cùng kỳ năm 2018.

Các thị trường xuất khẩu hạt tiêu chủ đạo của Việt Nam 8 tháng đầu năm 2019
Xuất khẩu hạt tiêu sang Mỹ đứng đầu về kim ngạch, đạt 36.543 tấn, tương đương 100,84 triệu USD, chiếm 16,7% trong tổng lượng và chiếm 18,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu của cả nước, tăng 15,8% về lượng nhưng kim ngạch giảm 10,5% so với cùng kỳ, giá giảm 22,7%, đạt 2.759,4 USD/tấn.
Xuất khẩu hạt tiêu sang EU chiếm 11,3% trong tổng lượng và chiếm 13,6% trong tổng kim ngạch, đạt 24.609 tấn, tương đương 75,44 triệu USD, tăng 22,5% về lượng nhưng giảm 4,4% về kim ngạch, giá giảm 22%, đạt 3.065,6 USD/tấn.

Xuất khẩu sang Ấn Độ mặc dù tăng 9,6% về lượng, nhưng vẫn giảm 17,5% về kim ngạch và giảm 24,8% về giá so với cùng kỳ, đạt 16.567 tấn, tương đương 40,31 triệu USD, giá 2.433,1 USD/tấn, chiếm trên 7% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu của cả nước.
Hạt tiêu xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á nói chung tăng mạnh 43,5% về lượng nhưng chỉ tăng 6,1% về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 14.146 tấn, tương đương 36,31 triệu USD, chiếm trên 6% trong tổng lượng hạt tiêu xuất khẩu của cả nước.

Trong 8 tháng đầu năm nay, giá xuất khẩu hạt tiêu sang toàn bộ các thị trường đều sụt giảm so với cùng kỳ năm 2018, do đó có rất nhiều thị trường tăng mạnh về lượng xuất khẩu nhưng kim ngạch lại giảm ở hầu hết các thị trường, riêng thị trường Thổ Nhĩ Kỳ tăng mạnh cả về lượng và kim ngạch, với mức tăng tương ứng 73,5% và 33,2%, đạt 3.891 tấn, tương đương 8,31 triệu USD; xuất khẩu sang Đức cũng tăng 45,8% về lượng và tăng 10,2% về kim ngạch, đạt 8.615 tấn, tương đương 25,07 triệu USD.
Ngược lại, các thị trường sụt giảm mạnh cả lượng và kim ngạch gồm có: Singapore giảm 56% về lượng và giảm 67% về kim ngạch, đạt 668 tấn, tương đương 1,67 triệu USD; Kuwait giảm 28,7% về lượng và giảm 48,3% về kim ngạch, đạt 326 tấn, tương đương 0,83 triệu USD; Ai Cập giảm 18,1% về lượng và giảm 35,3% về kim ngạch, đạt 5.637 tấn, tương đương 12,08 triệu USD.

Theo thông tin từ Baohaiquan.vn, các chuyên gia cho rằng giá hạt tiêu giảm do nguồn cung trên thế giới tăng. Tuy nhiên, riêng ở Việt Nam, chất lượng bị ảnh hưởng một phần từ việc sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật quá mức nên giá giảm hơn so với hạt tiêu một số quốc gia khác. 5 năm trước đây, hạt tiêu Việt Nam dẫn đầu thế giới về năng suất và sản lượng nhưng 2 năm trở lại đây, nhiều quốc gia như Brazil, Ấn Độ, Indonesia trở thành đối thủ cạnh tranh với Việt Nam về sản lượng cũng như chất lượng; trong đó, đáng quan tâm nhất là hạt tiêu Brazil có chất lượng tốt hơn với 80% lượng bán ra thị trường thế giới đạt tiêu chuẩn hữu cơ.

Trong 8 tháng đầu năm nay, trong khi xuất khẩu hạt tiêu sang hầu hết các thị trường đều giảm về giá trị do ảnh hưởng của xu hướng giảm giá trên thị trường toàn cầu thì xuất khẩu sang thị trường Đức lại tăng mạnh về cả khối lượng và giá trị. Trong bối cảnh xuất khẩu hạt tiêu đang đối diện với nhiều khó khăn và sức ép cạnh tranh lớn thì việc Việt Nam ký kết thành công Hiệp định EVFTA sẽ là cơ hội tốt cho ngành hồ tiêu Việt Nam. Đối với Hiệp định EVFTA, các nước EU cam kết xóa bỏ thuế quan đối với sản phẩm hạt tiêu (mã HS 09.04) ngay khi hiệp định có hiệu lực. Do vậy, EVFTA sẽ là đòn bẩy tốt để các doanh nghiệp Việt Nam tăng cường xuất khẩu vào các nước EU (đặc biệt là đối với các sản phẩm chế biến trước đây có mức thuế từ 5-9%).

Một số chuyên gia phân tích: Trước đây, xuất khẩu hạt tiêu sang thị trường EU phải đáp ứng tiêu chuẩn riêng của từng nước thì sau khi EVFTA có hiệu lực, các doanh nghiệp chỉ cần đáp ứng tiêu chuẩn chung của toàn khối để có thể xuất khẩu sang các thị trường thuộc khối EU. Việt Nam cũng sẽ tận dụng được cơ hội để phát triển ngành chế biến hạt tiêu khi các nhà đầu tư trong khối EU chuyển nhà máy chế biến về Việt Nam để tận dụng nguyên liệu và nhân công giá rẻ.
Với EVFTA nói riêng và các thị trường khác nói chung, xuất khẩu hạt tiêu Việt Nam hiện đang phải đối mặt với hàng rào kỹ thuật ngày càng cao tại các nước, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam đã nhiều lần bị cảnh báo về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên hạt tiêu.

Tiêu biểu như vấn đề dư lượng hóa chất Metalaxyl trên hạt tiêu nhập khẩu vào thị trường châu Âu. Trước đây, lượng tối đa cho phép của hóa chất Metalaxyl trên hạt tiêu nhập khẩu vào EU là 0,1 ppm, nhưng Ủy ban châu Âu (EC) đã yêu cầu điều chỉnh mức này xuống còn 0,05 ppm. Đến năm 2018, mới chỉ có 46% hạt tiêu Việt Nam đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang châu Âu.

Theo Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, Nhà nước cần xây dựng, phát triển vùng sản xuất, tuân thủ các biện pháp thực hành nông nghiệp tốt và theo tiêu chuẩn quốc tế; tăng cường kiểm soát, giảm thiểu tối đa mức sử dụng thuốc trừ sâu hóa học tổng hợp và tiến tới có giải pháp hỗ trợ các hộ sản xuất để phát triển các đồn điền tiêu hữu cơ; thúc đẩy xây dựng hệ thống thông tin, dự báo và phát triển thị trường đặc biệt là thị trường nước ngoài để tận dụng các cơ hội xâm nhập và mở rộng thị trường; đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại hạt tiêu sang các thị trường có tiềm năng như Mexico, duy trì và phát triển vị thế của hạt tiêu Việt Nam trên các thị trường thuộc khối EU.
Các doanh nghiệp cũng cần đẩy mạnh liên kết liên doanh để hình thành các hiệp hội có đủ năng lực quản lý hoạt động ngành hàng; chủ động trong công tác nghiên cứu nhu cầu thị trường và xu hướng tiêu dùng, đặc biệt tại thị trường EU...
CK
Nguồn: VITIC

Video
.
.
gold-view
Hits count: 33,706,036