6-12-2019, 8:29 GMT+7

Tình hình xuất nhập khẩu hạt điều của Việt Nam 10 tháng đầu năm 2019

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, 10 tháng đầu năm nay, xuất khẩu hạt điều của Việt Nam tăng về lượng nhưng giảm về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái.

Nhập khẩu hạt điều của Việt Nam 10 tháng đầu năm cũng theo xu hướng tương tự, tăng về lượng và giảm về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018.

Tình hình xuất khẩu hạt điều của Việt Nam 10 tháng đầu năm 2019
Theo Tổng cục Hải quan, 10 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu hạt điều đạt 372,29 nghìn tấn, trị giá 2,7 tỷ USD, tăng 22,3% về lượng, nhưng giảm 4,0% về trị giá so với 10 tháng đầu năm 2018.
Riêng tháng 10/2019, xuất khẩu hạt điều tăng cả lượng và trị giá, tăng lần lượt 3,5% và 4,2% đạt tương ứng 44 nghìn tấn, trị giá 304,67 triệu USD.
Tuy đứng thứ 3 về sản lượng điều thô, nhưng Việt Nam đang dẫn đầu thế giới về xuất khẩu điều nhân trong 10 năm liên tiếp.

Các thị trường xuất khẩu hạt điều chủ yếu của Việt Nam 10 tháng đầu năm 2019
Hạt điều của Việt Nam được xuất khẩu tới 27 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Mỹ, Trung Quốc, Hà Lan, Đức, Anh là những thị trường chủ lực. Lượng điều xuất khẩu từ các quốc gia này chiếm 65,92% tổng lượng điều xuất khẩu, trong đó xuất sang Mỹ nhiều nhất 122,59 nghìn tấn đạt 865,52 triệu USD, tăng 7,91% về lượng nhưng giảm 18,12% trị giá, giá xuất bình quân 7060,01 USD/tấn, giảm 24,12% so với cùng kỳ năm 2018. Riêng

Tháng 10/2019, Việt Nam cũng đã xuất sang Mỹ 13,51 nghìn tấn, trị giá 88,76 triệu USD, giảm 3,66% về lượng và giảm 2,98% trị giá, giá bình quân 7060,01 USD/tấn, tăng 0,71% so với tháng 9/2019, nếu so sánh với tháng 10/2018 thì tăng 40,19% về lượng và tăng 5,47% trị giá, giá bình quân giảm 24,76%.
Đứng thứ hai sau thị trường Mỹ là Trung Quốc lục địa với lượng xuất 58,14 nghìn tấn, trị giá 447,28 triệu USD, tăng 58,16% về lượng và tăng 36,30% trị giá so với cùng kỳ năm 2018, mặc dù giá xuất bình quân giảm 13,82% chỉ với 7692,53 USD/tấn. Riêng tháng 10/2019 cũng đã xuất sang thị trường Trung Quốc 8,42 nghìn tấn, trị giá 63,70 triệu USD, giá bình quân 7564,35 USD/tấn, tăng 8,2% về lượng, 9,59% trị giá và giá bình quân tăng 1,29% so với tháng 9/2019, nếu so sánh với tháng 10/2018 thì cũng đều tăng cả lượng và trị giá, tăng lần lượt 25,74% và 17,11% nhưng giá bình quân giảm 6,86%.

Kế đến là các thị trường Hà Lan, Đức, Anh đạt lần lượt 36,61 nghìn tấn; 14,48 nghìn tấn và 13,59 nghìn tấn, trị giá tương ứng 275,13 triệu USD; 109,22 triệu USD và 92,23 triệu USD.
Nhìn chung, 10 tháng đầu năm 2019 xuất khẩu hạt điều sang các thị trường hầu hết đều tăng về lượng, theo đó xuất sang thị trường Pakistan tăng nhiều nhất gấp hơn 2,4 lần (tức tăng 137,5%) tuy chỉ đạt 133 tấn, trị giá 1,03 triệu USD, tăng gấp 2,1 lần (tức tăng 114,34%) so với cùng kỳ năm 2018, giá xuất bình quân 7760,79 USD/tấn, giảm 9,75%. Riêng tháng 10/2019 cũng đã xuất sang Pakistan 29 tấn, trị giá 238,3 nghìn USD, giá bình quân 8217,24 USD/tấn, giảm 61,33% về lượng và 56,61% về trị giá, giá bình quân tăng 12,23% so với tháng 9/2019, so sánh với tháng 10/2018 tăng 3,57% về lượng, 6,9% trị giá và giá bình quân tăng 3,22%.
Ngược lại, xuất khẩu hạt điều sang thị trường Nam Phi và NaUy giảm mạnh, giảm lần lượt 23,59% và 22,18% tương ứng với 625 tấn và 806 tấn, kim ngạch cũng sụt giảm lần lượt 46,07% và 42,09% so với cùng kỳ.

Đáng chú ý, cơ cấu thị trường xuất khẩu điều 10 tháng đầu năm nay so với năm ngoái có thêm các thị trường như Saudi Arabia 2,94 nghìn tấn; Co Oét 144 tấn, Iraq 1,2 nghìn tấn và Ai Cập 1,5 nghìn tấn, trong đó giá bình quân xuất sang thị trường Co Oét đạt cao nhất 8776,31 USD/tấn, tiếp theo là Iraq 8074,95 USD/tấn và thấp nhất là Saudi Arabia 6534,31 USD/tấn.

Tình hình nhập khẩu hạt điều của Việt Nam 10 tháng đầu năm 2019
Mặc dù xuất khẩu điều nhân đóng góp vào kim ngạch của cả nước trên 2,7 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm 2019, nhưng ngược lại nhập khẩu mặt hàng này trên 1,8 tỷ USD với 1,41 triệu tấn, tăng 34,5% về lượng nhưng giảm 11,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Riêng tháng 10/2019, Việt Nam cũng đã nhập khẩu 123,05 nghìn tấn, trị giá 167,78 triệu USD, giảm 24,5% về lượng và giảm 15,4% về trị giá so với tháng 9/2019 – đây là tháng giảm thứ tư liên tiếp, số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ.

Các thị trường nhập khẩu hạt điều chủ yếu của Việt Nam 10 tháng đầu năm 2019
Mười tháng đầu năm 2019, Việt Nam nhập khẩu hạt điều chủ yếu từ Bờ Biển Ngà, chiếm 33,9% tổng lượng điều nhập khẩu đạt 480,7 nghìn tấn, trị giá 611,51 triệu USD, tăng 38,94% về lượng nhưng giảm 7,38% trị giá, giá nhập bình quân 1272,12 USD/tấn, giảm 32,94% so với cùng kỳ năm 2018.
Riêng tháng 10/2019, Việt Nam cũng đã nhập từ Bờ Biển Ngà 37,57 nghìn tấn, trị giá 49,18 triệu USD, giảm 32,46% về lượng và giảm 23,13% trị giá, giá nhập bình quân 1308,91 USD/tấn, tăng 13,82% so với tháng 9/2019; so với tháng 10/2018 thì tăng 31,03% về lượng và 22,22% trị giá, giá nhập bình quân giảm 6,72%.

Tiếp theo là thị trường Ghana, so với 10 tháng đầu năm 2018 đây là một trong những thị trường mới cung cấp hạt điều cho Việt Nam đạt 212,48 nghìn tấn, trị giá 256,82 triệu USD, giá nhập bình quân 1208,69 USD/tấn, riêng tháng 10/2019 Việt Nam cũng đã nhập từ thị trường này 5,7 nghìn tấn, trị giá 6,14 triệu USD, giảm 40,17% về lượng và giảm 39,88% về trị giá, giá nhập bình quân 1076,01 USDS/tấn, tăng 0,48% so với tháng 9/2019. Kế đến là thị trường Cămpuchia với lượng nhập 175,08 nghìn tấn, trị giá 294,27 triệu USD, giá nhập bình quân 1680,75 USD/tấn, tăng 27,48% về lượng và tăng 5,1% về trị giá, giá nhập bình quân giảm 17,55% so với cùng kỳ 2018; riêng tháng 10/2019 cũng đã nhập từ thị trường Cămpuchia 100 nghìn tấn hạt điều, trị giá 130 nghìn USD, giảm 90,48% về lượng và giảm 91,57% trị giá so với tháng 9/2019; giảm 99,24% về lượng và 99,52% trị giá so với tháng 10/2018.

Nhìn chung, 10 tháng đầu năm nay lượng điều nhập khẩu từ các thị trường hầu hết đều tăng trưởng, theo đó nhập từ Bờ Biển Ngà tăng nhiều nhất, tiếp theo là Cămpuchia và Indonesia.
Đáng chú ý, ngoài thị trường Ghana thì Việt Nam còn nhập từ một số thị trường mới như: Singapore, Nigeria, Cộng hòa Tanzania với lượng nhập lần lượt 130 tấn; 159,53 tấn và 34,43 tấn với giá nhập bình quân tương ứng 922,82 USD/tấn; 1161,61 USD/tấn; 1434,18 USD/tấn.

Nguồn: VITIC tổng hợp từ nhiều nguồn

Video
.
.
gold-view
Hits count: 33,754,228